Dạy Tiếng Ba Na

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Dạy Tiếng Ba Na xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 19/01/2021 trên website Centaurdance.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Dạy Tiếng Ba Na để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 5.247 lượt xem.

Có 3133 tin bài trong chủ đề【Dạy Tiếng Ba Na】

【#1】Trường Tiểu Học Xã Hà Tây Đổi Mới Phương Pháp Dạy Tiếng Bahnar

(GLO)- Nhờ tích cực đổi mới phương pháp dạy học tiếng Bahnar, Trường Tiểu học xã Hà Tây (huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai) đã giúp học sinh hào hứng tiếp thu bài, nâng cao chất lượng học tập. Đồng thời, việc duy trì sĩ số học sinh cũng luôn được đảm bảo.

Năm học 2021-2021, Trường Tiểu học xã Hà Tây có 24 lớp với 787 học sinh. Trong đó, 99% học sinh là người Bahnar. Ngay từ đầu năm học, cùng với việc dạy học theo chương trình phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) quy định, nhà trường đã triển khai dạy tiếng Bahnar như một bộ môn trong chương trình. Theo đó, toàn trường có 3 lớp với hơn 200 học sinh của khối lớp 3, 4 và 5 được học tiếng Bahnar.

Thầy Hoàng Bùi Luyện-Phó Hiệu trưởng nhà trường-chia sẻ: “Xác định được những khó khăn gặp phải khi triển khai chương trình, nhà trường đã bồi dưỡng 3 giáo viên là người Bahnar có kinh nghiệm, am hiểu phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt của người Bahnar để phụ trách dạy học ở 3 khối lớp. Đồng thời, nhà trường thường xuyên kiểm tra, dự giờ, đóng góp ý kiến để chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao. Đặc biệt, thông qua môn học này sẽ giúp các em học sinh tăng cường tiếng Việt, học tốt hơn ở các môn khác. Đây cũng là cách để bảo tồn và phát huy nét đẹp ngôn ngữ và văn hóa truyền thống của đồng bào Bahnar”.

Một tiết học tiếng Bahnar tại Trường Tiểu học xã Hà Tây, huyện Chư Păh. Ảnh: Ngọc Thu

Là giáo viên phụ trách dạy tiếng Bahnar, cũng là người dân tộc bản địa ở xã Hà Tây, thầy A Dris đã vận dụng vào bài giảng cùng với phương pháp dạy học mới để truyền đạt kiến thức chương trình học bằng tiếng Bahnar giúp các em dễ hiểu, nắm bắt kiến thức tốt hơn.

“Tôi định hướng để học sinh tìm hiểu nội dung bài học, liên hệ thực tế địa phương, trong sinh hoạt hàng ngày của các em. Từ đó, học sinh gần gũi với giáo viên, hiểu bài học hơn. Ngoài ra, tôi vận dụng linh hoạt 2 ngôn ngữ để giúp học sinh tiếp thu bài học tốt hơn”-thầy A Dris cho hay.

Đến nay, chất lượng dạy và học bộ môn Tiếng Bahnar đã có nhiều chuyển biến, phát huy hiệu quả rõ rệt, giúp học sinh thêm hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt và các môn học khác. Kết quả cuối năm học, 100% học sinh hoàn thành và hoàn thành tốt môn học; tỷ lệ học sinh chuyên cần đạt 98-100%.

Học sinh Trường Tiểu Học xã Hà Tây hào hứng với môn học tiếng Bahnar. Ảnh: Ngọc Thu

Được học tiếng mẹ đẻ từ năm lớp 3, em Bis (lớp 5C) đã mạnh dạn, tự tin hơn trong học tập, siêng năng đến trường. Bis cho biết: “Lúc trước, em thấy tiếng Việt rất khó, em không hiểu bài nên không muốn đi học. Nhưng được thầy cô chỉ dạy bằng tiếng Bahnar, em dễ học bài hơn. Giờ không chỉ biết được tiếng Việt mà em còn biết đọc, viết cả tiếng Bahnar nữa. Em thấy vui khi được đến lớp”.

Theo ông Nguyễn Đình Phước-Phó Trưởng phòng GD-ĐT huyện Chư Păh, Trường Tiểu học xã Hà Tây là một trong những điểm sáng của huyện trong việc thực hiện chương trình dạy học tiếng Bahnar. Thời gian tới, huyện sẽ tạo điều kiện để các giáo viên được tập huấn, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy. Đối với tình trạng thiếu sách giáo khoa tiếng dân tộc thiểu số, vì đang trong quá trình chuẩn bị đổi sách mới do Bộ GD-ĐT biên soạn nên ngành GD-ĐT huyện sẽ trích tiền để mua, photocopy sách cũ cho giáo viên dùng tạm thời đến khi sách giáo khoa mới xuất bản.


【#2】Dạy Tiếng Bahnar, Jrai Cho Học Sinh Th Vùng Dtts: Bồi Dưỡng Tình Yêu Tiếng Mẹ Đẻ

Được đưa vào triển khai rộng rãi tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số từ 3 năm nay, chương trình dạy tiếng Bahnar, Jrai đã thực sự giúp cho học sinh vượt qua được tâm lý tự ti, nhút nhát, tiếp thu bài học nhanh hơn. Tại huyện Phú Thiện (Gia Lai), chương trình này đã được học sinh đón nhận một cách hào hứng.

Lớp 4A- Trường Tiểu học Nay Der, xã Chư A Thai (huyện Phú Thiện) với 20 học sinh bỗng chốc trở nên sôi nổi hơn khi bước vào tiết học tiếng Bahnar. Ở một ngôi trường có đến hơn 95% học sinh người Bahnar thì đây là một chương trình được đánh giá hết sức thiết thực khi mà lâu nay ngôn ngữ luôn là một rào cản lớn.

Theo đánh giá của nhiều thầy cô, tương tự như việc học sinh người Kinh cần học tốt tiếng Việt trước khi học một ngôn ngữ khác, học sinh vùng dân tộc thiểu số cũng sẽ tiếp thu tiếng Việt và chương trình học phổ thông tốt hơn nếu trước đó được học tiếng mẹ đẻ. Do đó, với các học sinh lớp 4A- Trường Tiểu học Nay Der, giờ học chính tả trở nên gần gũi hơn rất nhiều; học sinh nhanh nhảu ghi từng chữ lên chiếc bảng con sau khi nghe thầy đọc to vài lần.

Em Kpă Thân bẽn lẽn nói: “Em thích học tiếng Bahnar vì… dễ học”. Thầy Siu Grư trao đổi: “Là giáo viên người Jrai nhưng phải dạy tiếng Bahnar nên tôi phải học hỏi thêm rất nhiều; ngoài ra vừa dạy, giáo viên vừa phải điều chỉnh một chút cho hợp với phương ngữ do sách được soạn theo tiếng Bahnar ở Kon Tum”. Tuy nhiên, điều vui nhất đối với anh là học sinh luôn hào hứng trong mỗi tiết học và tiếp thu rất nhanh.

Việc dạy tiếng Bahnar, Jrai cho học sinh dân tộc thiểu số ở cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh được tiến hành dạy thực nghiệm 10 năm (1997-2007) và đưa vào triển khai dạy đại trà từ năm 2008. Chương trình được dạy 3 tiết/tuần bắt đầu từ lớp 3, tính điểm trung bình vào kết quả học tập chung như những môn học khác. Đến nay, toàn tỉnh có 97 Trường Tiểu học tổ chức dạy tiếng Bahnar, Jrai cho 10.093 học sinh.

“Gần như các em vừa học vừa chơi nên giờ học rất hào hứng, việc chia nhóm cũng giúp những em nhút nhát tiến bộ nhanh hơn”- thầy Nay Đơn nói. Siu H’Nuin- một học sinh của lớp, cho biết em được học tiếng Jrai đã 3 năm và rất thích vì “trong sách có nhiều chuyện cổ tích rất hay”. H’Nuin khoe điểm kiểm tra giữa học kỳ vừa rồi của em ở môn học tiếng Jrai được đến 9 điểm. Tuy nhiên, với những lớp có học sinh người Kinh, các em có quyền chọn học hoặc không học tiếng Jrai, Bahnar.

Nhận xét về ảnh hưởng tích cực của chương trình dạy tiếng Bahnar, Jrai, ông Rơ Mah Xôn- Phó Trưởng phòng Giáo dục- Đào tạo huyện Phú Thiện, cho biết: “Qua 3 năm triển khai, có thể thấy đây là chương trình rất có lợi cho học sinh, giúp các em hiểu tiếng mẹ đẻ, từ đó cũng hiểu tiếng Việt tốt hơn, tiếp thu bài tốt và thực tế là kết quả học tập cũng được cải thiện hơn”.

Ông Phạm Văn Căn- Phó Trưởng ban Giáo dục Dân tộc (Sở Giáo dục- Đào tạo), cũng nhìn nhận khá lạc quan: “Chương trình đã đáp ứng yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành giao tiếp, giúp các em mở rộng những hiểu biết về văn hóa của dân tộc mình, bồi dưỡng tình yêu tiếng mẹ đẻ cho học sinh và góp phần rèn luyện tư duy, từ đó học tốt tiếng Việt và các môn khác trong trường tiểu học”.


【#3】Dạy Tiếng Anh Cho Bé 4 Tuổi Qua Bài Hát Như Thế Nào Để Có Hiệu Quả?

Dạy tiếng Anh cho bé 4 tuổi qua các bài hát có tiết tấu vui nhộn, từ vựng đơn giản kết hợp với hình ảnh sinh động giúp các bạn nhỏ hứng thú và dễ dàng ghi nhớ hơn. Tuy nhiên, không phải phụ huynh nào cũng biết cách áp dụng phương pháp học này một cách hiệu quả.

Bảng xếp hạng

trung tâm tiếng Anh trẻ em

Phương pháp học hiệu quả

Dạy tiếng Anh cho bé 4 tuổi bằng cách nghe nhạc thiếu nhi hằng ngày có thể giúp các em cải thiện vốn từ vựng và luyện cách phát âm như người bản xứ. Bên cạnh đó, phương pháp này cho phép các em dễ dàng bắt chước theo nhịp điệu của âm nhạc, từ đó có thể giúp trẻ yêu thích tiếng Anh hơn.

Tuy nhiên, để phương pháp học tiếng Anh qua bài hát mang lại hiệu quả tốt nhất, bố mẹ hãy lưu ý những điều sau:

Sắp xếp thời gian phù hợpCùng trẻ học tiếng Anh giúp tình cảm gia đình trở nên khắng khít hơn (Nguồn: Raising Children)

Việc dạy tiếng Anh cho bé 4 tuổi sẽ đạt hiệu quả tốt hơn khi bố mẹ cùng tham gia với trẻ. Khi phụ huynh cùng học cùng chơi, các em sẽ thấy gần gũi, tự tin, thoải mái chia sẻ cảm xúc và hòa mình vào bài hát.

Baby Shark

Cuối cùng, để việc dạy tiếng Anh cho bé 4 tuổi đạt hiệu quả cao nhất, bố mẹ cần sắp xếp thời gian nghe và học tập phù hợp với con. Phụ huynh có thể chọn khung giờ nhất định trong ngày để bé học tiếng Anh. Điều này giúp con sớm hình thành thói quen quản lý thời gian và kỹ năng tự học.

Baby Shark với giai điệu vui nhộn (Nguồn: YouTube – Pinkfong! Kids’ Songs & Stories)ABC Song

Một số bài hát tiếng Anh cho bé 4 tuổi phổ biến trên YouTube

Bài hát Five Little Ducks với minh họa dễ thương (Nguồn: YouTube – Super Simple Songs – Kids Songs)Happy Birthday

Bảng chữ cái là một trong những kiến thức cơ bản nhất mà các em nhỏ được tiếp cận khi mới làm quen với tiếng Anh. Thay vì học từng chữ cái một khá nhàm chán và khô khan, bố mẹ có thể cho bé nghe bài hát tiếng Anh vui nhộn về bảng chữ cái. Giai điệu vui nhộn của bài hát mẫu giáo này sẽ giúp bé nhớ nhanh và cũng có hứng thú hơn với việc học tập.

Bài hát Happy Birthday (Nguồn: YouTube – The Kiboomers – Kids Music Channel)Four seasons in a year

Ngoài việc rèn luyện cho bé đánh vần chữ cái, phụ huynh cũng nên lựa chọn những bài hát đếm số để trẻ làm quen với các con số. Five Little Ducks là bài hát đếm số có giai điệu khá vui tươi, tiết tấu không quá nhanh giúp các bạn nhỏ có thể tương tác và làm theo các động tác trong bài.

Trẻ có thể bắt chước theo những hành động trong bài hát Four seasons (Nguồn: YouTube – The Kiboomers – Kids Music Channel)

Happy Birthday phổ biến không chỉ với trẻ mầm non mà còn với người lớn. Thực tế, trong mỗi dịp sinh nhật, các bạn nhỏ thường thích thú hát theo giai điệu vui nhộn của bài hát này. Bài hát có lời đơn giản, giai điệu vui tươi, thích hợp cho các bạn nhỏ hát và nhún nhảy theo.

Anh Thư (Tổng hợp)

Nguồn ảnh cover: Business Insider Singapore


【#4】Ngày Thứ Năm (Fifth Day) Trong Bảy Ngày Học Tiếng Anh Y Khoa: Hệ Hô Hấp

NGÀY THỨ NĂM (FIFTH DAY):

THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG HỆ HÔ HẤP

1. CF = Cystic fibrosis /ˌsɪstɪk faɪˈbrəʊsɪs/: Bệnh xơ nang/u xơ nang

2. PE = chúng tôi embolism /ˈpʌlmənərɪ ˈɛmbəˌlɪzəm/: Nghẽn/tắt mạch phổi

3. OSA = Obstructive sleep chúng tôi /əbˌstrʌk.tɪv ˈsliːp.æp.ni.ə/: Ngừng thở khi ngủ do tắt nghẽn

4. COPD /ˌsiːˌəʊˌpiːˈdiː/ = Chronic obstructive chúng tôi disease: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

TỪ NGỮ

Danh từ

– Fibrosis /faɪˈbrəʊsɪs/: Formation of an abnormal amount of fibrous tissue (mô xơ) in an organ or part as the result of inflammation, irritation, or healing. Xơ hóa

– Embolism /ˈɛmbəˌlɪzəm/: Obstruction of an artery, typically by a clot of blood (cục máu đông) or an air bubble (bóng khí). Sự nghẽn mạch

Tính từ

– Acute /əˈkjuːt/: cấp tính

– She was taken to hospital suffering from acute appendicitis /əˌpendəˈsaɪtɪs/.

– Cô ấy được đưa vào viện vì viêm ruột thừa cấp.

– Chronic /ˈkrɒnɪk/: mãn tính

– He suffered from chronic asthma /ˈæsmə/.

– Anh ấy bị hen mãn tính.

– Obstructive /əbˈstrʌktɪv/: Tắt nghẽn

Gốc từ và tính từ phái sinh

– Cyst(o)-/ˈsɪstəʊ/ [Gr]*: Bladder Bàng quang

– Cystic /ˈsɪstɪk/ (adjective): Relating to the gall bladder or urinary bladder

– Cyst(o)- )-/ˈsɪstəʊ/: Sac Nang/u nang

– Cystic /ˈsɪstɪk/ (adjective): Of, relating to, or resembling a cyst

– Pulmon(o)- /pʌlmən(oʊ)/: Lung /lʌŋ/: Phổi

CÁC VÍ DỤ:

– He was diagnosed with cystic fibrosis (bệnh xơ nang) when he was about 18 months old.

– He died suddenly from a pulmonary embolism (nghẽn/tắt mạch phổi).

– Obstructive sleep apnoea (ngừng thở khi ngủ do tắt nghẽn) is often found in people who are very overweight.

– Smoking is the major cause of COPD (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính).

CẶP THUẬT NGỮ DỄ NHẦM LẪN CỦA HỆ HÔ HẤP HOẶC HỆ HÔ HẤP VỚI HỆ KHÁC

1. chúng tôi Viêm phế quản – chúng tôi Viêm tiểu phế quản

2. chúng tôi Thở chậm, nông – chúng tôi Thở nhanh, sâu

3. chúng tôi Thủ thuật mở khí quản – chúng tôi Th/th mở tử cung

4. chúng tôi Thủ thuật mở khí quản – Tracheo.stomy Th/th mở thông khí quản

Tracheo.stomy : /ˌtrækɪˈɒstəmɪ/: Surgical creation of a stoma (hole) in the front of the neck and through the trachea (windpipe)

Tracheo.tomy /ˌtrækɪˈɒtəmɪ/: Surgical incision into the trachea (windpipe), usually performed when the upper air passage has been blocked

LƯU Ý

Gốc từ

1. Bronch(o)- /ˈbrɑŋk(oʊ)/ Phế quản – Bronchiol(o)- /brɑŋˈkioʊl(oʊ)/ Tiểu phế quản

2. Hypo- /haɪpəʊ/ Giảm – Hyper- /haɪpə(r)/ Tăng

3. Trache(o)- /ˈtreɪki(oʊ)/ Khí quản – Trachel(o)- /ˈtrækəˌl(oʊ)/ 1. Cổ (neck)/ cổ tử cung (neck of the uterus)

Hậu tố

-Tomy /təmi/: Mở, cắt, rạch

-Stomy /stəmi/: Mở thông, dẫn lưu

CÁC VÍ DỤ:

– Air pollution can lead to (dẫn đến) bronchitis (viêm phế quản) and emphysema (tràn khí/khí phế thũng) and can increase the risk (tăng nguy cơ) of heart attacks (cơn đau tim) and strokes (đột quỵ).

– She was diagnosed with (được chẩn đoán) acute bronchiolitis (viêm tiểu phế quản cấp tính).

THUẬT NGỮ Y HỌC VỀ CHẨN ĐOÁN

1. Auscultation /ˌɔːskəlˈteɪʃn/: Thính chẩn

2. Percussion /pəˈkʌʃn/: Phép gõ chẩn

3. Pleural (friction) rub /rʌb/: Tiếng cọ phế mạc/tiếng cọ màng phổi

4. Rales /ˈrɑːls/ (crackles /ˈkræk(ə)lz/): Tiếng ran

5. Rhonchus /ˈrɒŋkəs /) Ran ngáy Rhonchi (số nhiều )

6. Sputum /spjuːtəm/: Phlegm Đờm. Từ đồng nghĩa: Phlegm /flem/

7. Stridor: Tiếng thở rít /ˈstraɪˌdɔr /

8. Wheezes /wiːziz/ /: Tiếng thở khò khè

ĐỊNH NGHĨA TIẾNG ANH VỀ CÁC THUẬT NGỮ CHẨN ĐOÁN

1. The process of listening to somebody’s breathing using a stethoscope /ˈsteθəskəʊp/.

2. Tapping (gõ) a part of the body for diagnostic purposes.

3. A friction (grating) sound (tiếng rít (kèn kẹt) heard by a stethoscope during inspiration and expiration in patients with pleuritis, due to the rubbing of the visceral and parietal pleurae (màng phỗi lá tạng và màng phỗi lá thành).

5. A rattling or whistling respiratory sound resembling snoring (ngáy), caused by secretions (tiết dịch) in the trachea (khí quản) or bronchi (phế quản)

6. Sputum is not saliva but the thick mucus (dịch nhầy) – sometimes called phlegm – which is coughed up from the lungs.

7. A harsh (thô ráp), high-pitched (cường độ mạnh) whistling sound, produced in breathing by an obstruction in the bronchi, trachea, or larynx.

8. A whistling noise (tiếng rít) in the chest during breathing.

VÍ DỤ

– Her breathing sound was slightly coarse (hơi thô ráp) without rales (tiếng ran) or rhonchi (ran ngáy) on auscultation (khi thính chẩn).

– Inspection (nhìn), palpation (sờ), percussion (gõ) and auscultation (nghe) were virtually the only tools that physicians had to diagnose every medical condition.

– In most situations, the use of both the urinary antigen test (xét nghiệm kháng nguyên) plus sputum culture (thử đờm) is the best combination.

– Respiratory symptoms and signs that may be psent include shortness of breath (hụt hơi), wheezes (thở khò khè), or stridor (tiếng thở rít).

THUẬT NGỮ VỀ BỆNH TẬT/RỐI LOẠN CỦA HỆ HÔ HẤP

1. Asthma /ˈæsmə/: Hen suyễn

2. Emphysema /ˌemfɪˈsiːmə/: Tràn khí/khí phế thũng

3. Epistaxis /ˌɛpɪˈstæksɪs/: Chảy máu cam. Từ đồng nghĩa: Nosebleed

4. Influenza /ˌɪnfluˈenzə/: Cúm

5. Lung cancer /ˈlʌŋ kænsə(r)/: Ung thư phổi

6. Pneumonia /njuːˈməʊniə/: Viêm phổi

7. Pleural effusion /ɪˈfjuːʒn/: Tràn dịch màng phổi

8. Pleurisy /ˈplʊərəsi/: Viêm màng phổi. Từ đồng nghĩa: Pleuritis /plʊəˈraɪtɪs/

9. Sinusitis /ˌsaɪnəˈsaɪtɪs/: Viêm xoang

10. Tuberculosis /tjuːˌbɜːkjuˈləʊsɪs/: Lao

ĐỊNH NGHĨA TIẾNG ANH VỀ BỆNH TẬT/RỐI LOẠN CỦA HỆ HÔ HẤP

1. Asthma /ˈæsmə/: A medical condition of the chest that makes breathing difficult

2. Emphysema /ˌemfɪˈsiːmə/: A condition in which the small sacs in the lungs become filled with too much air, causing breathing difficulties and heart problems

3. Epistaxis /ˌɛpɪˈstæksɪs/: Bleeding from the nose

4. Influenza /ˌɪnfluˈenzə/: An acute, contagious, infectious disease, caused by any of various viruses and characterized by inflammation of the respiratory tract, fever, and muscular pain.

5. Lung cancer: Disease characterized by uncontrolled growth of cells in the lungs.

6. Pneumonia /njuːˈməʊniə/: Inflammation of the lung lining

7. Pleural effusion /ɪˈfjuːʒn/: An accumulation of fluid in the chest or on the lung.

8. Pleurisy /ˈplʊərəsi/: Inflammation of the lung lining.

9. Sinusitis /ˌsaɪnəˈsaɪtɪs/: Inflammation of a nasal sinus.

10. Tuberculosis /tjuːˌbɜːkjuˈləʊsɪs/: A disease caused by bacteria that attacks the lungs.

VÍ DỤ

– We have thousands of asthma (hen suyễn) cases a year.

– Heavy cigarette smoking often causes emphysema (tràn khí/khí phế thũng).

– Some complain of (khai bệnh) nasal stuffiness, epistaxis, and headaches nghẹt mũi, chảy máu cam và đau đầu).

– Pneumonia (viêm phỗi) and influenza (cúm) still kill (cướp đi sinh mạng) many seniors in this country each year.

– Most of all smoking increases the risk (có nguy cơ) of lung cancer, lung diseases and heart disease.

– The most common causes of pleural effusions (tràn dịch màng phổi) are cancer, congestive heart failure (suy tim sung huyết), pneumonia, and recent surgery.

– Scars on his lungs suggest he may have suffered from pleurisy (bị viêm màng phỗi).

– She contracted pleurisy (bị viêm màng phổi) and died at age 26 in January 1894.

– Fortunately, most severe chronic sinusitis problems (vấn đề viêm xoang) can be treated surgically.

TỪ VIẾT TẮT PHỔ BIẾN VỀ CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH

1. CT = Computerised/computed tomography: Chụp cắt lớp điện toán

2. MRI /ˌem ɑːr ˈaɪ/ = Magnetic resonance /ˈrezənəns/ imaging: Chụp cộng hưởng từ

3. PET = Positron emission tomography: Chụp cắt lớp phát xạ positron

4. SPECT = Single photon emission computerised/computed tomography: Chụp cắt lớp điện toán phát xạ đơn photon

CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ THUẬT NGỮ CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH

1. An x-ray procedure that uses the help of a computer to produce a detailed picture of a cross section of the body. Also called a CT scan or CAT scan.

2. A method of using a strong magnetic field to produce an image of the inside of a person’s body (the abbreviation for ‘magnetic resonance imaging’)

3. Positron emission tomography (PET) is a type of nuclear medicine procedure that measures metabolic (trao đổi chất) activity of the cells of body tissues.

4. Single photon emission computed tomography (SPECT) is a medical imaging technique that is based on conventional nuclear medicine imaging and tomographic reconstruction methods.

VÍ DỤ

– According to the CT scan, his skull was still intact, but his brain had suffered irreversible damage.

– The researchers used MRI to record the brain activity.

– EEG has also been combined with positron emission tomography.

– Single Photon Emission Computed Tomography or SPECT and Positron Emission Tomography or PET scans are the two most common imaging modalities (phương thức) in nuclear medicine.

TỪ NGỮ

– Computerize /kəmˈpjuːtəraɪz/: To use a computer to do something that was done by people or other machines before: Điều khiển bằng máy tính

– Computerized tomography: A radiological technique that produces images of cross sections through a patient’s body using low levels of radiation. Chụp cắt lớp. Từ đồng nghĩa: Computed tomography

– Magnetic /mæɡˈnet.ɪk/ (adj): With the power of a magnet. Có từ tính

– Resonance /ˈrezənəns/: The production of a sound as a result of vibration (= shaking) of another object. Cộng hưởng

– Emission /iˈmɪʃən/: The act of sending out gas, heat, light, etc. Sự phát ra, tỏa ra

– Tomography /təˈmɒɡrəfi/: The use of X-rays to make three-dimensional images of flat sections of the body. Chụp cắt lớp

– EEG /ˌiː iː ˈdʒiː/ được viết tắt từ thuật ngữ ‘electroencephalography /ɪˌlektrəʊenˈsefələˌɡrɑːfy/: Kỹ thuật/phép chụp điện não

Bản quyền thuộc nguyễn phước vĩnh cố và trường Đại học Phan Chu Trinh, Quảng Nam


【#5】Ngày Thứ Năm (Fifth Day) Trong Bảy Ngày Học Tiếng Anh Y Khoa Căn Bản: Hệ Thần Kinh

NGÀY THỨ NĂM (FIFTH DAY) TRONG BẢY NGÀY HỌC TIẾNG ANH Y KHOA CĂN BẢN: HỆ THẦN KINH

Xin vui òng dẫn nguồn mỗi khi trích dẫn

nguyễn phước vĩnh cố

tôn nữ hải anh

bảo nguyên

TIỀN TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HỆ THẦN KINH

1. A/an-: Without mất không có

2. Pachy- /pakɪ/: Thick dày

3. Para- /parə/: Near, beside gần, bên cạnh

4. Schizo- /skɪtsə/: Split nứt, phân, tách

5. Syn- /syːn/: Union, together liên hợp

6. Uni- /ˌjuːnɪ/: One một

CÁC VÍ DỤ CÓ TIỀN TỐ TRÊN

– A.myo.trophy /ˌamɪˈɒtrəfi/: chứng teo cơ

– An.(a)ethesia /ˌænəsˈθiːziə/: mất cảm giác

– Pachy.meningitis /ˌpakɪˌmɛnɪnˈdʒʌɪtɪs/: viêm màng não cứng

– Para.plegia /ˌparəˈpliːdʒə/: liệt chi dưới

– Schizo.phrenia /ˌskɪtsəˈfriːniə/: tâm thần phân liệt

– Syn.algia /syːnˈældʒə/: đau liên hợp

– Uni.lateral /ˌjuːnɪˈlætrəl/: một bên

GỐC TỪ LIÊN QUAN ĐẾN THẦN KINH

1. Caus(o)- /kɔːˈz(əʊ)/: Burning, burn bỏng

– Caus.algia /kɔːˈzældʒə/: chứng hỏa thống, đau bỏng

HẬU TỐ THÀNH LẬP TÍNH TỪ TRONG TIẾNG ANH Y KHOA

1. -Al: chúng tôi /ˈserəbrəl/: thuộc não

2. -Ar: chúng tôi /ˌsɛrɪbrəʊˈvæskjʊlə/: thuộc mạch máu não

3. -Ic: chúng tôi /ɪˈskɛmɪk/: thiếu máu, cerebric /ˈsɛrɪbrɪk/: thuộc não, phobic /ˈfəʊbɪk/: thuộc nỗi sợ hãi

4. -Ous: chúng tôi : thuộc thần kinh

5. -Oid: chúng tôi /ˈserəˌbroid/: dạng não

CÁC VÍ DỤ

– chúng tôi palsy /ˈpɔːlzi/: bại liệt

– chúng tôi accident /ˈæksɪd(ə)nt/, /event /ɪˈvent/: tai biến mạch máu não

– chúng tôi stroke /strəʊk/: đột quỵ do thiếu máu cục bộ

HẬU TỐ CHỈ SỰ RỐI LOẠN/BỆNH TẬT

1. -Asthenia /əsˈθiːnɪə/: Weakness suy nhược

2. -(A)esthesia /ɛsˈθiːzɪə//iːsˈθiːzɪə/: Feeling cảm giác

3. -Phobia /ˈfəʊbiə/: Abnormal fear sợ hãi

4. -Trophy /ˈtrəʊfi/: Development sự phát triển

CÁC VÍ DỤ

– My.asthenia /ˌmaɪəsˈθiːnɪə/: chứng nhược cơ

– Hyper.(a)esthesia /ˌhaɪpəriːsˈθiːzɪə/: chứng tăng cảm giác

– Claustro.phobia /ˌklɔːstrəˈfəʊbiə/: nỗi sợ sống trong không gian tù túng

– Acro.phobia /ˌakrəˈfəʊbɪə/: nỗi sợ về độ cao

– A.myo.trophy /ˌamɪˈɒtrəfi/: chứng teo cơ

HẬU TỐ CHỈ RỐI LOẠN/BỆNH TẬT

1. -Algia /ældʒə/: Pain/ache đau/sự khó chịu

2. -Cele /səl// siːl/: Hernia thoát vị, lồi

3. -Itis /ˈaɪtɨs/: Inflammation viêm

4. -Malacia /məˈleɪʃ(ɪ)ə/: Softening chứng nhuyễn/nhũn

5. -Oma /əʊmə/: tumor u, bướu

6. -Osis /əʊsɪs/: condition/psence of tình trạng bất thường/triệu chứng của bệnh

7. -Pathy /pəθi/: Pain/ache đau/sự khó chịu

8. -Plegia /pliːdʒə/: Paralysis liệt

THUẬT NGỮ GỒM 1 GỐC TỪ HỆ THẦN KINH + HẬU TỐ CHỈ RỐI LOẠN/BỆNH TẬT (NÊU TRÊN)

Cerebr(o)- /ˈsɛrɪbrəʊ//səˈriːbrəʊ/:

Cerebri.tis: viêm não

Cerebro.pathy: bệnh não

Cerebro.malacia: chứng nhũn não

Cerebro.sclerosis / ˈsɛrɪbrəʊskləˈrəʊsɪs/: chứng xơ cứng não

Crani(o)- /ˈkreɪnɪ(əʊ)/ :

Cranio.malacia: chứng nhũn/nhuyễn sọ

Cranio.stenosis: chứng hẹp sọ

Cranio.sclerosis: chứng xơ cứng sọ

Encephal(o)- /enˌsefəˈl(əʊ)/ :

Encephal.algia: đau đầu

Encephal.itis /enˌsefəˈlaɪtɪs/ /enˌkefəˈlaɪtɪs/: viêm não

Encephalo.cele /ensˈefəlˌəʊsəl/: thoát vị não

Encephalo.malacia /enˌsefəməˈleɪʃ(ɪ)ə/ : chứng nhũn não.

Encephalo.pathy /enˌsefəˈlɒpəθi/: rối loạn chức năng não

Mening(o)- /mɪˈnɪndʒə(ʊ) / /meningi(o):

Mening.itis: viêm màng não

Meningo.cele: thoát vị màng não

Meningo.malacia: nhũn màng

Meningo.pathy: bệnh màng não

Myel(o)- /ˌmaɪəl(əʊ)/ :

Myel.itis: viêm tủy

Myelo.cele: thoát vị tủy sống

Myelo.malacia: chứng nhuyễn tủy

Myelo.pathy: bệnh tủy

Neur(o)- /njʊər(əʊ)/

Neur.algia BrE / njʊəˈrældʒə /: NAmE /nʊˈrældʒə/: chứng đau dây thần kinh

Neuro.dynia: chứng đau dây thần kinh

Neuro.pathy /njʊəˈrɒpəθi/: bệnh thần kinh

Cephal(o)- /ˌsɛfəˈl(əʊ)/

Cephal.algia : đau đầu

Cephal.itis: viêm não

Cephalo.cele: thoát vị não

Cephalo.dynia: đau đầu

Cephalo.pathy: bệnh đầu

Cephalo.plegia: liệt cơ đầu mặt

7 HẬU TỐ CHỈ SỰ CHẨN ĐOÁN

-Gram /ɡræm/ /ɡrɑːm/: Written/pictorial record bản ghi, hình ghi/đồ

-Graph /ɡrɑːf/ /ɡræf/: Device for graphic/pictorial recording dụng cụ dùng để ghi/ký

-Graphy /ɡrəfi/: An act of graphic/pictorial recording phép ghi, kỹ thuật dùng để ghi

-Meter /ˈmiːtə/: Device for measuring dụng cụ dùng để đo

-Metry /mɪtri/: An act of measuring phép đo

-Scope /skəʊp/: Device for viewing dụng cụ dùng để xem

-Scopy/skəʊpy/: An act of viewing kỹ thuật dùng để xem/soi

THUẬT NGỮ Y KHOA GỒM 1 GỐC TỪ HỆ THẦN KINH + 1 HẬU TỐ CHỈ CHẨN ĐOÁN

– Encephalogram / ɛnˈsɛfələˌɡræm/: phim X quang não

– Encephalograph / ɛnˈsɛfələˌɡrɑːf/ɡræf /: dụng cụ chụp não

– Encephalography /ɛnsɛfəˈlɒɡrəfɪ/: (sự) chụp não.

– Cephalo.meter /ˌsɛfəˈlɒmɪtə/: đầu kế

– Cephalometry /ˌsɛfəˈlɒmɪtrɪ/: (phép) đo đầu

– Cerebroscope: dụng cụ soi mắt khám não

– Cerebroscopy: (phép) soi mắt khám não

8 HẬU TỐ CHỈ PHƯƠNG THỨC PHẪU THUẬT

1. -Centesis /senˈtisəs /: Surgical puncture chọc/dò

2. -Desis /ˈdeɪsis/: Surgical binding làm dính

3. -Ectomy /ˈɛktəmi/: Surgical removal cắt bỏ/lấy đi

4. -Pexy /ˈpeksi/: Surgical fixation cố định

5. -Plasty / /ˈplæstɪk/: Surgical repair tạo hình/chỉnh hình

6. -Rrhaphy /rəfi/: Suture khâu

7. -Tomy /təmi/: Cut/incision cắt/mở

8. -Stomy /stəmi/: Artificial opening mở thông/dẫn lưu

MỘT SỐ THUẬT NGỮ Y KHOA GỒM 1 GỐC TỪ HỆ THẦN KINH + 1 HẬU TỐ CHỈ PHƯƠNG THỨC PHẪU THUẬT

CEREBR(O)-:

Cerebro.tomy: giải phẫu não

CRANI(O)-:

Crani.ectomy: cắt bỏ xương sọ

Cranio.tomy: mở sọ

Cranio.plasty: tạo hình sọ


【#6】13 Kênh Dạy Lập Trình Căn Bản Bằng Tiếng Việt Bạn Trẻ Nào Cũng Có Thể Học

TechMaster là một website dạy lập trình ở Việt Nam được thành lập vào năm 2011, bởi anh Trịnh Minh Cường – Chuyên gia phụ trách Mảng công nghệ phần mềm Microsoft và doanh nghiệp phần mềm tại Việt Nam.

Hiện tại, đội ngũ giảng viên tại TechMaster bao gồm đông đảo các chuyên gia làm việc trong FPT Software, các trưởng dự án…

Các khóa học được TechMaster cung cấp bao gồm các ngôn ngữ lập trình như: Objective-C, Web cơ bản HTML,CSS và JavaScript, chúng tôi Thiết kế RESTful WebServices với Nodejs, PHP 7, Python, ArrowJS, C++, Swift và được cập nhật liên tục.

MyClass là website dạy lập trình ở Việt Nam, ra đời từ năm 2014. MyClass cung cấp các kiến thức, kĩ năng lập trình rộng khắp như: Android, chúng tôi C#, C++, SQL, HTML, Java, JSP, Network, MVC, PHP, WordPress.

Để tiện cho các học viên, MyClass chia các khóa học theo từng cấp độ, áp dụng dự án thực tế giúp người học có được cái nhìn thấu đáo về ngành lập trình.

Trung Tâm Đào Tạo Tin Học Khoa Phạm do thầy Phạm Trường Đăng Khoa lập ra cũng là một địa chỉ theo học lập trình đáng tin cậy cho các bạn trẻ Việt Nam.

Cho những ai chưa biết, thầy Phạm Trường Đăng Khoa đã từng được Apple mời để tham dự hội nghị lập trình viên WWDC 2021.

Các bài học tập trình được thầy Khoa cung cấp bao gồm: Android (Java), Swift, PHP & MySQL, Laravel, Unity Game 3D, lập trình Game Sprite Kit (Swift), lập trình Game COCOS2DX, chúng tôi và liên tục cập nhật.

Kênh Youtube dạy lập trình căn bản bằng tiếng Việt

Gramy – ngôn ngữ lập trình Swift

Ide Academy – ngôn ngữ lập trình Swift

MyClass – đa dạng ngôn ngữ lập trình

TEDU – ngôn ngữ lập trình: jQuery, chúng tôi MVC, C#, Angular

Khoa Pham – đa dạng ngôn ngữ lập trình

Thạch Phạm – WordPress

Dạy Nhau Học – đa dạng ngôn ngữ lập trình

chúng tôi – đa dạng ngôn ngữ lập trình

K Team – ngôn ngữ lập trình C#

Lưu Trường Hải Lân – đa dạng ngôn ngữ lập trình

Theo Cafebiz / Trí Thức Trẻ


【#7】Thế Hệ Học Sinh Từng Được Dạy Phương Pháp ‘vuông Tròn’ Cách Đây Hơn 20 Năm Lên Tiếng Trước Cơn Bão Tranh Cãi Của Dân Mạng

Câu chuyện về phương pháp dạy học “vuông tròn” vẫn chưa có hồi kết và càng ngày càng nóng trên mạng xã hội. Người ta đua nhau share những bài hát chế, những lời châm biếm trong khi chưa hiểu rõ được bản chất của vấn đề.

Bộ sách Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại khi đem thử nghiệm dạy ở các trường Tiểu học tiếp tục vấp phải những bình luận trái nhiều, thậm chí nhiều ý kiến phản đối từ phía phụ huynh, cha mẹ học sinh.

Sự việc bắt nguồn từ clip quay lại cảnh 1 cô giáo hướng dẫn học sinh học câu thơ “Tháp mười đẹp nhất bông sen/Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ” bằng phương pháp nhìn vào dấu chấm, ô vuông để đọc thuộc lòng.

Về bản chất vấn đề, cư dân mạng đang cố tình hiểu sai. Phương pháp sử dụng ô vuông này là để giúp các em học sinh hiểu về “tiếng” (hay âm tiết) trước khi nhận mặt chữ. Bởi vì về mặt bản chất, tiếng hay âm thanh chúng ta phát ra là thứ có trước, chữ viết chỉ là các ký hiệu được quy ước dành cho tiếng mà thôi.

Trước khi nhận mặt chữ, các em học sinh cần hiểu rằng ngôn ngữ là cấu tạo từ các “tiếng”, và các ô vuông là để hỗ trợ cho sự tưởng tượng đó được tốt hơn, tránh gây nhầm lẫn.

Các ô vuông này chỉ được dạy trong một vài buổi đầu để học sinh làm quen với khái niệm “tiếng”. Còn sau đó sẽ được áp dụng vào bảng chữ Quốc ngữ như bình thường, để hỗ trợ cho cách đánh vần của học sinh.

Không chỉ được áp dụng trên thế giới, phương pháp này cũng đã được dạy cho thế hệ 9x cách đây hơn 20 năm

Nguyễn Siêu, chàng trai từng gây sốt trên mạng xã hội với phát biểu về việc cuồng hoa hậu của người Việt vào năm 2021; tốt nghiệp bằng Cử nhân Điện ảnh và Truyền thông tại đại học Vassar, New York (top 12 nước Mỹ) loại xuất sắc (GPA: 3.9/4.0), 1 người từng học phương pháp này của giáo sư Hồ Ngọc Đại cho biết:

” Ngày xưa, mình học cấp 1 tại trường Tiểu học Thực Nghiệm, thuộc trung tâm Công nghệ giáo dục của chính thầy Đại. Bộ sách Tiếng Việt mình được học trong suốt 5 năm từ 2001 tới 2005 chính là bộ sách này, bộ sách dạy học sinh đọc các khối tròn vuông mà mọi người đang chỉ trích kịch liệt mấy ngày hôm nay. Thời ấy, trường mình là nơi duy nhất dạy học theo chương trình Công nghệ giáo dục, trong khi bạn bè cùng lứa ở tất cả các trường tiểu học khác đều học theo sách giáo khoa đại trà của Bộ GD&ĐT.”

Năm 2005, trường tiểu học Thực Nghiệm được yêu cầu ngừng dạy theo chương trình Công nghệ giáo dục và bắt đầu sử dụng bộ sách đại trà của Bộ GD&ĐT. Khoá 2001 – 2005 của Siêu là lứa học sinh Thực Nghiệm cuối cùng được học tập trọn vẹn 5 năm với chương trình của thầy Đại.

Siêu cho biết, lý do dân mạng “ném đá” nhiệt tình phương pháp này vì ngoài số ít những người đã học ở trường tiểu học Thực Nghiệm trước năm 2005, không một ai khác biết tới chương trình dạy học này.

Điều thứ nhất mà Siêu được dạy trong lớp tiếng Việt đầu tiên của cả cuộc đời chính là ngôn ngữ bao gồm hai thành phần cơ bản: chữ viết và tiếng nói. Bộ sách tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại không bắt đầu từ chữ viết A, B, C, mà bắt đầu bằng tiếng nói, vì tiếng nói là thể dạng ngôn ngữ đầu tiên mà con người sử dụng: đứa trẻ ngay sau khi sinh ra đã biết khóc, khi lớn lên một chút thì biết bập bẹ gọi mẹ, gọi bà, còn lên ba, lên bốn thì mới bắt đầu học viết chữ. Âm thanh vì thế đi trước con chữ.

Chương trình Tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại cũng bắt đầu từ thành phần cơ bản của tiếng Việt: ÂM. Học sinh được học về âm thanh đầu tiên. Một “tiếng” phát ra là một âm thanh, dù “tiếng” ấy có nghĩa hay không. “Tiếng” chính là đơn vị cơ bản, đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ. Ví dụ: “dâm bụt” là một TỪ, tức là một đơn vị ngôn ngữ có nghĩa, nhưng nó gồm hai TIẾNG, tức là hai đơn vị âm thanh, là “dâm” và “bụt.” Đứng một mình, “dâm” và “bụt” là hai tiếng có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa, nhưng ở những tuần học đầu tiên của chương trình Công nghệ giáo dục, học sinh chưa học về NGHĨA, mà đơn thuần chỉ học về ÂM.

Chúng chỉ cần rằng hiểu “dâm bụt” có 2 tiếng, tức là hai lần miệng chúng mở ra, thanh quản rung để phát ra một âm thanh nào đó. Mỗi hình vuông, hình tròn trong bộ sách của thầy Đại là đại diện cho một ÂM, một tiếng. Một câu thơ 6 chữ sẽ có 6 hình vuông; một câu thơ 8 chữ sẽ có 8 hình vuông. Cư như vậy, học sinh sẽ nắm được khái niệm về “tiếng,” về “âm,” để phân tách rõ ràng rằng một câu thơ có 6 chữ thì miệng chúng phải phát âm ra đầy đủ 6 “tiếng,” không sót “tiếng” nào.

Bạn Giang Thuỷ Trúc, sinh năm 1990, hiện đang du học tại Nhật Bản, người từng học Cấp 1, 2 trường Thực Nghiệm Giáo dục phổ thông Tây Ninh cũng đã được dạy phương pháp này từ những ngày đầu tiên đến trương.

Thủy Trúc cho biết: “Trường mình học là trường Thực Nghiệm, tức là học chương trình Thực Nghiệm ngay từ đầu – cách đây khoảng hơn 20 năm. Tới năm 2005, mình tốt nghiệp lớp 9 và không còn học chương trình này nữa vì lúc đó Bộ GD&ĐT cải cách sách giáo khoa lần đầu, thống nhất 1 chương trình cho cả nước.

Theo mình nhớ thì tụi mình học rất vui, không ai áp lực gì. Thỉnh thoảng gặp bạn bè ở ngoài thì có chút ngạc nhiên vì cái mình biết mà tụi nó không biết thôi, còn cái tụi nó mới học thì mình học lâu rồi.”

Chương trình của giáo sư Hồ Ngọc Đại đã giúp thế hệ ngày xưa phát triển tư duy ngôn ngữ cực tốt

Theo những người đã được dạy chương trình này từ bé, thì nó chú trọng dạy học sinh cách TƯ DUY NGÔN NGỮ, bên cạnh việc chỉ biết đọc và viết.

Nguyễn Siêu chia sẻ rằng: “Chính nhờ cách học tiếng Việt này mà cho tới tận bây giờ, khi làm biết cứ việc gì, đi bất cứ đâu, nhìn bất cứ vật nào, não mình ngay lập tức phân tích cái gì thuộc về thế giới “thật” cái gì thuộc về những thứ mang tính chất đại diện, dùng để gọi, để ví, để miêu tả, để “thay thế” bao gồm “ngôn ngữ” và “hình ảnh.” Con mèo là vật thật, bức tranh con mèo là một vật thay thế, hai tiếng “con mèo” cũng là vật thay thế, hai tiếng “a cat” trong tiếng Anh cũng là một vật thay thế khác.

Chính cách dạy học này đã rèn luyện cho mình có được một tư duy ngôn ngữ rất rõ ràng: Khi mình miêu tả một cái gì, mình sẽ phải đi tìm từ ngữ chuẩn xác nhất để diễn đạt ý mà mình đang có trong đầu. Khi mình viết trong tiếng Anh, mình cũng phải tư duy sao cho ra cái từ “đắt” nhất có thể để đại diện cho cái “vật thật” mà mình đang muốn miêu tả.”

Thời của Thủy Trúc học, nhiều phụ huynh cũng ý kiến là chương trình nặng học không nổi nhưng bản thân học sinh rất hứng thú, không cảm thấy vấn đề gì hết. Nó giúp phát triển tư duy rất tốt, những bé mới vào học chữ lớp 1 sẽ dễ tiếp cận hơn.

Ngôn ngữ không chỉ là biết cách nói một từ, đọc một tiếng. Ngôn ngữ cốt lõi nằm ở sự tư duy. Tư duy ngôn ngữ tốt thì cách nhìn cuộc sống, cách giải quyết vấn đề, cách làm việc sẽ tốt. Công việc hiện nay của Siêu là sản xuất và dựng video quảng bá cho kênh Paramount tại Mỹ. Tư duy ngôn ngữ được học tập, bồi đắp và gọt sắc nhờ chương trình Tiếng Việt của thầy Hồ Ngọc Đại vẫn đóng một vai trò rất quan trọng trong cách làm nghệ thuật và làm việc ngày qua ngày của cậu bạn này.

Ví dụ, để truyền tải một thông điệp nào đó qua một video ngắn, khi nào thì ta cần dùng hình ảnh làm “vật thay thế,” khi nào cần dùng lời thuyết minh đằng sau làm “vật thay thế”? Cách đọc thơ bằng hình vuông, hình tròn trong chương trình Tiếng Việt cũng trang bị cho mình một tư duy tốt về NHỊP. Mỗi tiếng phát ra tạo ra một nhịp; 8 hình vuông là 8 nhịp khác nhau. Nhịp điệu là cốt lõi của nghệ thuật: phải kể chuyện theo nhịp nhanh hay chậm để hấp dẫn, phải dựng video, dựng phim thế nào để khán giả không cảm giác là sản phẩm này nhanh tới mức khó hiểu hoặc quá lề mề, lê thê. Mỗi khi viết hay dựng video, Siêu đều “cảm” nhịp và nhớ lại những cái gõ thước vào từng ô vuông, khối tròn của cô giáo năm lớp 1 ở trường Thực Nghiệm. Siêu nói rằng cậu thật sự rất biết ơn chương trình Công nghệ giáo dục của thầy Đại đã giúp mình xây dựng được khả năng ngôn ngữ của ngày hôm nay.

Cuối cùng, điều mà thế hệ những người từng được dạy phương pháp của giáo sư Hồ Ngọc Đại muốn nhắn rủ rằng, trước khi share bất cứ thứ gì lên mạng xã hội, mọi người đừng nên vội vàng quá, hãy tìm hiểu thật kỹ vấn đề vì nếu mọi chuyện đi quá xa sẽ để lại hậu quả khôn lường. Họ cũng muốn cảm ơn giáo sư Hồ Ngọc Đại và những người đã phát minh, giảng dạy phương pháp này.


【#8】Đây Là Cách Dạy Bé 1 Tuổi Rưỡi Học Tiếng Anh, Bà Mẹ Nào Cũng Cần Lưu Lại Để Áp Dụng

Chia sẻ với PV Emdep, chị Hồng Thắm cho biết: ” Mình xác định ngay từ đầu rằng học Tiếng Anh cùng con là một hành trình dài nên luôn cần sự thoải mái. Vì ở độ tuổi 1,5, bé còn khá nhỏ, thậm chí bé mới bắt đầu nói sõi tiếng Việt, vì thế mẹ cần chia ra các giai đoạn để bé dễ tiếp thu “.

Cụ thể:

– Giai đoạn 1,5- 2,5 tuổi:

Mẹ chủ yếu cho bé nghe nhạc tiếng anh qua các kênh youtube, các bài hát đơn giản. Giai đoạn này, bé luôn nhạy cảm với âm thanh, hình ảnh nên mẹ chủ yếu tập trung dạy con qua các bài hát.

Thời gian đầu chưa có định hướng gì, chị Thắm cũng học thuộc bài hát, tối trước khi đi ngủ mẹ hát một lượt các bài cho bé nghe.

Giai đoạn này chủ yếu, mẹ nói, mẹ tự trả lời, vì bé dù có hiểu cũng chưa trả lời được, bé chỉ có thể dùng tay chân để trả lời, nếu vậy mẹ cũng sẽ nói thành lời câu trả lời của bé “, chị Thắm cho biết.

– Giai đoạn 2,5-3,5 tuổi:

Chị Thắm đã thêm chương trình hoạt hình vào chương trình xem tivi của bé. Chị thường chọn các video có phụ đề để mẹ có thể hiểu, nắm bắt cốt truyện để làm tài liệu nói chuyện với bé trước khi đi ngủ.

Xem hoạt hình, bé sẽ bắt đầu hiểu ngữ cảnh để sử dụng nguyên cả một câu, nên mình cũng xác định là cần thời gian học lâu hơn, chứ không thể tiến bộ nhanh như học qua bài hát, bởi vì độ khó tăng lên một bậc, sử dụng câu dài hơn, dùng để đối thoại và phải phù hợp với ngữ cảnh.

Đến nay, khi đã 3 tuổi rưỡi, tối nào trước khi đi ngủ, bé Voi cũng đòi mẹ đọc sách Tiếng Anh cho nghe.

Theo chị Thắm, suốt cả quá trình, chị thực sự không tập trung quá nhiều vào tài liệu, tổng kết lại 2 năm học thì bé Voi đã học đi học lại chứ không học nhiều chương trình nội dung.

Quá trình đồng hành cùng con, mình thấy không chỉ con tiến bộ mà mẹ cũng tiến bộ, ví dụ như hồi trước xem hoạt hình cần phụ đề, còn bây giờ mẹ không còn cần vất vả tìm video có phụ đề nữa, vì mẹ đã có thể nghe hiểu trực tiếp.

Hay như cách đây một năm, khi bắt đầu đọc sách cho con, mình cũng rất tự ti về phát âm, nhưng cứ học dần dần, gặp từ nào mới, khó, không đọc được, mẹ xin phép em dừng câu chuyện, mở google tra từ đó, 2 mẹ con cùng luyện, từ từ số lần dừng để tra từ cũng ít dần, và giờ mẹ có thể đọc sách cho em rất là trơn tru rồi “.

Chia sẻ về kinh nghiệm cho bé học Tiếng Anh từ nhỏ, chị Thắm cho rằng, yếu tốt để thành công đó là mẹ không nên nóng vội, có những câu nói mang tính cưỡng ép, mong đợi, để những buổi học của con chỉ là những buổi chơi, không kết thúc trong nước mắt, giận dỗi của con, bực tức của mẹ.

Luôn luôn tin tưởng rằng, hành trình còn dài, phải vui vẻ mới có thể tiếp tục, và điều mình cần làm cho con là tạo được tình yêu cho con với ngôn ngữ này, còn kết quả thì vô chừng, thế nào là thành công chính mình chưa định nghĩa được. Mẹ tự tạo áp lực cho bản thân và dù không muốn nhưng chắc chắn điều đó sẽ được truyền qua con. Và tất nhiên một hành trình với áp lực thì sẽ chẳng đi đến đâu cả “, chị Thắm cho biết.

Mỹ Mỹ


【#9】Dạy Trẻ Học Tiếng Anh Bằng Hình Ảnh Minh Họa Như Nào?

Học tiếng Anh bằng hình ảnh là phương pháp được nhiều người lựa chọn bởi hình ảnh luôn có ý nghĩa và tạo ấn tượng mạnh mẽ hơn chữ viết.

Với những người mới bắt đầu tiếp xúc với tiếng Anh, đặc biệt là trẻ em, học tiếng Anh bằng hình ảnh là cách học từ vựng nhanh nhất. Như bạn cũng biết, hình ảnh luôn có ý nghĩa và tạo ấn tượng mạnh mẽ hơn chữ viết. Theo nghiên cứu của các chuyên gia, hình ảnh sẽ giúp chúng ta hồi tưởng lại sự việc dễ dàng hơn và điều này được ứng dụng cho việc học từ vựng một cách đơn giản hơn thay vì chỉ luyện tập viết chữ như cách học truyền thống.

Khi học các từ vựng bằng hình ảnh, bạn cần học luôn cách phát âm của chúng. Bất cứ khi nào bạn nhìn thấy hình ảnh đó, hãy đồng thời phát âm.

➤ Học tiếng Anh qua phim hoạt hình

➤ Tự học tiếng Anh ở nhà

➤ Học cách phát âm tiếng Anh

Để dạy trẻ học tiếng Anh bằng hình ảnh qua cách tô màu các hình ảnh. Bạn hãy ở bên cạnh bé những lúc bé tô màu và giới thiệu cho bé về cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt của bức tranh bé vừa tô, khi tô xong bạn có thể hỏi lại để bé được nhớ lại kiến thức. Hãy để bé tùy chọn những bức ảnh bé muốn tô vì như vậy bé sẽ cảm thấy thích thú và thoải mái.

Bạn đang theo dõi bài viết:

Tìm kiếm bài viết này với từ khóa:

  • học tiếng anh bằng hình ảnh
  • học cụm từ tiếng anh bằng hình ảnh
  • dạy trẻ học tiếng anh bằng hình ảnh
  • học tiếng anh bằng hình ảnh cho trẻ em
  • học tiếng anh thiếu nhi bằng hình ảnh

Liên hệ với HALO GROUP nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào.

Công ty cổ phần tập đoàn giáo dục quốc tế HALO – Trung tâm Tư vấn du học HALO

VĂN PHÒNG ĐỒNG NAI

[contact-form-7 id=”630″ title=”Lien he Yeu cau tu van”]


【#10】Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 3 Bằng Phương Pháp Thảo Luận Nhóm

Thứ sáu, ngày 25 tháng 12 năm 2021

NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 3 BẰNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 3 BẰNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM

Đặng Thị Thành Tên tác giả: Lớp: K54-A1.

Khoa: Giáo dục

Ngành: Giáo dục Tiểu học

  1. Mở đầu:
  2. Kết luận và kiến nghị

  3. Tài liệu tham khảo
  • Từ xa xưa, bên cạnh câu “không thầy đố mày làm nên” ông cha ta lại có câu “học thầy không tầy học bạn”. Điều đó thêm khẳng định ý nghĩa của việc “Hoạt động nhóm trong dạy học”.

  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
  • Phạm vi nghiên cứu.

    Đề tài nghiên cứu trong phạm vi trường Tiểu học Nhân Thành (Yên Thành – Nghệ An) trong việc dạy học môn Tiếng Việt ở khối lớp 3.

    Phương pháp nghiên cứu

    Đ ề tài sử dụng một số phương pháp chủ yếu như : phân tích, tổng hợp, quan sát, điều tra, thống kê, phân loại và phương pháp thực hiện thực nghiệm .

b, Về phía học sinh:

b: Chuẩn bị phương tiện

c: Dự kiến về việc tổ chức nhóm học sinh.

1. Lê Phương Nga, Lê A, Lê Hữu Tỉnh, Đỗ Xuân Thảo – PPDH Tiếng Việt ở Tiểu học Tập 1 ( Tái bản ), NXB Đại học HN 2007.

2. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 Tập 1, 2. NXB Giáo Dục, 2021.

3. Nguyễn Văn Cường, Phan Trọng Ngọ, Dạy học nhóm – phương pháp dạy học tích cực

Tổng hợp: Hải Yến


Bạn đang xem chủ đề Dạy Tiếng Ba Na trên website Centaurdance.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!